Kịch bản Giáng sinh

  1. NGƯỜI GIỚI THIỆU:

Nói đến Giáng Sinh là nói đến niềm vui.

Câu chúc ngày Giáng Sinh đã trở thành công thức: “Merry Christmas” – “Joyeux Nol” – “Giáng Sinh Vui Vẻ”. Và ngưòi ta tổ chức những cuộc vui Giáng Sinh, rồi dần dà Giáng Sinh chỉ còn là cái cớ để người ta vui chơi đến độ đánh mất niềm vui. Niềm vui Giáng Sinh đã bị nhận chìm trong niềm vui thế tục.

Đối với nhiều người Tây Phương, Giáng Sinh là những căn phòng ăn uống sang trọng, cỗ tiệc tưng bừng, rượu chè be bét. Họ quên rằng đêm Giáng Sinh đầu tiên, cha mẹ Hài Nhi không được vào quán trọ, và có thể không có gì lót dạ.

Đối với nhiều người, Giáng Sinh là áo quần lòe loẹt, trống nhạc xập xình, là những trận cười thâu đêm suốt sáng. Họ quên rằng đêm No-en đầu tiên, Hài Nhi nằm trong máng cỏ, run rẩy trong chiếc tã khó nghèo, và âm nhạc là tiếng hát thiên thần.

Vì thế, hôm nay chúng ta gặp nhau nơi đây để cùng khơi lại niềm vui đích thực. Chúng ta sẽ kể cho nhau nghe những biến cố và những tâm tình Giáng Sinh. Chúng ta sẽ nối tiếp những truyền thống thánh thiện phát sinh từ đêm No-en đầu tiên ấy.

Phúc Âm vừa chạm đến lòng người, đồng thời những giấc mơ huyền nhiệm cũng thành hình. Từ thời Giáo Hội tiên khởi, những bản văn mà bây giờ chúng ta gọi là “Ngụy Thư” đã được loan truyền trong các cộng đoàn tín hữu. Những bản văn ấy lẫn lộn lịch sử với huyền nhiệm, sự kiện với ước mơ. Những bản văn ấy không được Giáo Hội công nhận là những bản văn linh ứng, nhưng những mẩu chuyện trong đó vẫn gần gũi với giáo dân, và vẫn còn sống đến ngày nay.

Chúng ta vẫn còn ghi lại được tên của ba nhà đạo sĩ là: Gát-xpa ( Gaspar ), Men-ki-o ( Melchior ) và Ban-ta-da ( Balthazar ). Chúng ta vẫn còn đặt bò lừa bên cạnh máng cỏ, mặc dù trong Phúc Âm không hề nói đến bao giờ.

Và qua 20 thế kỷ, bao nhiêu câu chuyện khác đã tô điểm cho hào quang đêm Giáng Sinh càng ngày càng sáng, bởi vì vinh quang Thiên Chúa trên trời đã chiếu tỏa dưới thế trong những người lòng ngay.

Hôm nay, chúng ta vẫn tiếp tục kể cho nhau nghe những gì xảy ra trong đêm hôm ấy, theo bước chân của những Ki-tô hữu tiên phong. Chúng ta có thể lấy một câu Kinh Thánh và kéo dài thành một suy niệm nhẹ nhàng. Chúng ta có thể kể lại một mẩu chuyện Giáng Sinh mà có lần nào đó mình đã được nghe một cách thích thú, dù bây giờ chỉ còn sót lại một vài mảng. Chúng ta có thể để cho trí tưởng tượng dẫn dắt những cảm xúc mình đang đón nhận. Chúng ta có quyền lẫn lộn lịch sử với huyền thoại, hiện thực với mầu nhiệm, bởi vì xét cho cùng, chúng ta gặp nhau ở đây, không phải để trao cho nhau những kiến thức, mà trao cho nhau chân lý của TÌNH YÊU GIÁNG TRẦN, và đó là chân lý của con tim chứ không phải của khối óc.

Để truyện kể được sinh động, chúng ta có thể đặt mình vào một nhân vật nào đó đã có mặt ở Bê-lem khi Hài Nhi giáng trần và kể lại cho anh em nghe.

Sau mỗi truyện, nếu bạn nào bắt gặp một tâm tình ứng hợp trong một bản thánh ca, nhất là thánh ca Giáng Sinh thì có thể đơn ca phiên khúc, và tất cả sẽ hát phần điệp khúc.

Làm thế nào cho buổi gặp gỡ hôm nay tiếp nối được niềm vui Giáng Sinh đêm qua, và vang vọng cho đến ngày mai.

NGƯỜI CON GÁI CHỦ QUÁN:

Tôi sẽ kể cho các bạn nghe những gì tôi chứng kiến và cảm nhận trong đêm No-en đầu tiên ấy. Tôi có thể giới thiệu bằng tên của mình, nhưng tên tôi sẽ không nói lên được gì. Các bạn sẽ thấy gần gũi tôi hơn nếu tôi bảo rằng chính tôi là đứa con gái ông chủ quán trọ mà ông Giu-se và bà Ma-ri-a đến xin tá túc đêm đó. Năm ấy, tôi độ 7, 8 tuổi.

Tôi đang ở vào lứa tuổi vừa đủ trí khôn để hiểu rằng thế giới người lớn là một thế giới tôi không thể nào hiểu nổi. Cha mẹ tôi suốt ngày bận bịu với những người lạ mặt. Họ đến, ăn uống, ca hát, gây gỗ một vài đêm, rồi ra đi. Cha mẹ tôi nhẹ nhàng tươi cười với họ, kể cả những khi họ tỏ ra thô lỗ cộc cằn. Sau những lần như vậy, cha mẹ tôi lại giận dữ cau có sau lưng họ, và trút lên đầu tôi những bực dọc vô lý đó. Có lần mẹ tôi thấy tôi khóc vì oan ức, bà an ủi tôi, bằng cách cho tôi biết rằng cha mẹ cần đến những người ấy vì họ có tiền, cha mẹ cần có thật nhiều tiền để cho tôi vui sống.

Tôi không hiểu gì nhiều… Tôi chỉ thấy rằng cha mẹ ít khi tươi cười với tôi, và tôi chẳng có ai để trò chuyện. Tóm lại, từ khi 7 tuổi, tôi đã là một đứa bé hiểu được quá sớm rằng mình đang thiếu một cái gì đó, một cái gì thật căn bản để tạo ra niềm vui trong cuộc sống, và cái gì đó chắc chắn không phải là tiền. Cuộc sống của tôi đều đều như thế cho đến đêm hôm ấy.

Những ngày vừa qua, lữ khách đến quán trọ của chúng tôi tấp nập hơn, xa lạ hơn. Hình như họ đã đổ xô từ khắp nơi về đây. Cha mẹ tôi bận rộn suốt ngày. Cha mẹ tôi càng niềm nở với khách lạ bao nhiêu thì càng gắt gỏng với tôi bấy nhiêu. Vì thế tối hôm đó, tôi lánh mặt trên gác một mình. Đã hơn 8 giờ tối rồi mà khách lạ vẫn còn tuôn đến. Mẹ tôi dọn cho khách ăn trong nhà, còn cha tôi đứng ở cửa chờ khách. Cha tôi chỉ nhận vào quán trọ những người khách có dáng giàu sang, còn những người có vẻ nghèo hèn thì ông khéo léo xua đuổi. Tôi cảm thấy buồn vô hạn khi nhìn thấy những người khách nghèo cúi mặt quay đi.

Bỗng nhiên tôi chú ý đến hai người nãy giờ đứng thật lâu trong bóng tối. Họ có vẻ nghèo nàn và mệt mỏi. Hình như là hai vợ chồng trẻ, nhưng chỉ có một con lừa cũng mệt mỏi như họ. Có lẽ họ đã đi từ nơi nào xa lắm. Họ do dự một lúc lâu, rồi người chồng bước đến gặp cha tôi. Ông ta nói điều gì đó tôi không nghe rõ. Cha tôi nhìn người khách từ đầu đến chân rồi trả lời: “Xin cảm phiền nhé, quán tôi hết chỗ rồi”.

Người đàn ông đưa mắt nhìn cha tôi với cái nhìn van xin, tay chỉ về phía người vợ, ông ấp úng một câu gì đó. Tôi nghe cha tôi nói tiếp “Tôi rất thông cảm, nhưng không biết làm sao. Vợ ông không đủ sức đi xa hơn nữa, nhưng quán tôi quả thật không còn chỗ”.

Tôi muốn chạy ngay xuống và la lên với cha tôi rằng quán vẫn còn chỗ, rằng tôi sẵn sàng xuống bếp ngủ đêm nay, dành phòng cho hai vợ chồng ấy. Nhưng tôi biết có nói cũng vô ích, vì chắc chắn cha tôi sẽ nạt rằng con nít không được xen vào chuyện người lớn.

Người đàn ông không nói thêm gì nữa, nhưng tôi thấy đôi mắt của ông ta long lên trong bóng đêm. Trước cảnh đó, mắt tôi bỗng nhòa đi trong màn lệ, tôi không còn nghe gì, thấy gì nữa. Khi tôi trấn tĩnh lại để có thể nhìn rõ mọi vật, tôi thấy người đàn ông dắt lừa chậm rãi đi về phía chuồng bò.

Các bạn phải hiểu là tối hôm đó tôi không tài nào chợp mắt được. Trằn trọc mãi cho tới khuya, tôi khẽ bước xuống giường và lén ra khỏi nhà. Tôi không dám sờ soạn tìm áo ấm vì sợ gây tiếng động làm cha mẹ tôi thức giấc. Tôi vốn tính nhát gan, nhất là trước bóng đêm, nhưng không biết sao đêm nay có một cái gì đó thúc bách, khiến tôi không thể nào nằm yên được. Tôi ra khỏi nhà, lần mò xuống chuồng bò xem hai vợ chồng ban nãy ngủ nghỉ thế nào.

Nhưng kìa, họ vẫn còn thức, và chuồng bò lại sáng như ban ngày, sáng hơn cả phòng ăn trong quán trọ của chúng tôi. Lạ một điều là trong chuồng bò không có một ngọn đèn nào cả, chỉ có một đám lửa rơm sắp tàn. Rồi vẳng nghe ở đâu đó có một loại âm thanh nhẹ nhàng như tiếng suối, như tiếng chim, như tiếng gió vờn trên hoa dại mùa xuân. Một âm thanh tôi chưa bao giờ nghe qua. Ngỡ mình ngủ mê, tôi thử cắn vào tay mình, vẫn cảm thấy đau. Nhưng sao tôi vẫn không thấy lạnh, cũng không cảm thấy sợ hãi ?

Nhìn vào trong, tôi thấy người phụ nữ ngồi bên máng cỏ, trên đó có một cậu bé đang nhắm mắt ngủ yên, bên cạnh, người chồng đưa tay vuốt ve đầu con lừa chăm chú nhìn cậu bé con. Đúng là một cậu bé. Hồi tối tôi đâu có thấy cậu bé này ! Tôi chẳng có thì giờ suy nghĩ, vì cậu bé đã thức giấc. Cậu bé đưa mắt nhìn mẹ và mỉm cười. Người vợ đưa mắt nhìn chồng, rồi cả hai cùng mỉm cười. Và điều lạ đã xảy ra: con lừa cũng mỉm cười ! Tôi cam đoan với các bạn là lừa cũng biết cười, vì rõ ràng tôi nhìn thấy. Chuồng bò như rạng rỡ vì những nụ cười ấy.

Và tôi chợt hiểu rằng sở dĩ cuộc đời tôi u buồn, là vì tôi chưa hề đón nhận được một nụ cười nào như thế. Đồng thời tôi cũng cảm thấy sung sướng, và biết rằng vẫn có những nụ cười chân tình trên cuộc đời này.

Tôi đứng đó thật lâu, rồi im lặng trở về phòng. Cha mẹ tôi vẫn còn ngủ. Chỉ có một mình tôi đang thức trong căn nhà này. Tôi có cảm giác cha mẹ tôi đã ngủ lâu lắm rồi.

Vì ngủ mê, nên không biết rằng có một thứ nghèo đáng sợ hơn nghèo tiền nghèo bạc, đó là nghèo tình thương !

Vì ngủ mê, nên cha tôi không còn chỗ trong lòng mình để chấp nhận người khác và ông đã bảo rằng quán trọ không còn chỗ.

Và chỉ có những người ngoài kia là thức.

Vì thức tỉnh, nên cho dù trong chuồng bò giá buốt họ vẫn có nụ cười trên môi.

Vì họ thức, nên mới đánh thức tôi đêm nay.

Và vì tôi thức, nên tôi nghĩ rằng đã đến lúc phải đánh thức người khác, bắt đầu từ cha mẹ tôi…

CHÚ BÉ MỤC ĐỒNG:

Tôi tên là Đa-vít, một mục đồng đang sinh sống ở Bê-lem vào đúng cái đêm lịch sử ấy. Các bạn sẽ nghĩ rằng tôi có rất nhiều điều để kể. Nhưng thật ra thì tôi cũng không biết kể gì, bởi vì năm ấy, tôi mới là một cậu bé tập sự chăn chiên với người anh họ của tôi tên là Ê-li-a. Tôi sẽ kể về chuyện của mình vậy, kể về những gì đã xảy ra cho tôi trong đêm hôm ấy.

Trước hết, xin các bạn biết cho, lúc bấy giờ tôi cũng là một đứa trẻ bất hạnh. Nhưng có điều khác với cô bạn lúc nãy: tôi bất hạnh vì gia đình tôi nghèo ! Tôi không có một của cải gì ngoài cây sáo mục đồng mà lúc nào tôi cũng đeo trên cổ. Thêm vào đó, cha tôi là một người mà các trẻ em ngày nay đến gặp sẽ gán cho biệt hiệu “sáng xỉn, chiều say, tối lăn quay, mai xỉn tiếp…” Các bạn có thể mỉm cười, nhưng đối với tôi lúc đó không buồn cười tí nào, trái lại là khác, vì lâu nay mẹ tôi bị bệnh liệt giường không khỏi.

Tối hôm đó tôi không theo anh Ê-li-a ra đồng vì mẹ tôi trở bệnh nặng. Mỗi lần lên cơn, bà ôm ngực ho quằn quại, tôi chỉ biết đỡ một bên người mẹ tôi một cách bất lực. Cha tôi vẫn say mèm như mọi ngày, trong nhà thuốc thang không có, tiền thì hết sạch từ lâu.

Tôi bỗng nhớ lại một lần anh Ê-li-a chỉ cho tôi một loại lá bên sườn đồi và bảo rằng loại lá đó nhai sống có thể làm giảm cơn ho. Tôi muốn chạy đi hái một ít lá đó về cho mẹ. Nhưng đêm đã khuya, và tôi thì vốn dĩ nhát gan. Hay là… hay là tôi sẽ nhờ anh Ê-li-a đưa đi. Thế nào anh cũng giúp.

Tôi để mẹ nằm đấy và chạy lao vào trong bóng đêm. Càng lúc tôi chạy càng nhanh, vì càng lúc càng sợ hãi… Hình như đêm nay có một cái gì lạ lùng đang xảy ra. Tôi nghe văng vẳng như có ai hát “Vinh Danh Thiên Chúa…” Nhưng khi dừng lại thì chỉ nghe dư âm tiếng sáo mục đồng lẫn trong tiếng thì thào của những làn gió nhẹ. Tôi vui mừng biết bao khi thấy trước mặt là ngọn đồi nơi đám chiên cừu đang nghỉ. Tôi gọi to: “Anh Ê-li-a, anh Ê-li-a có đấy không ? Anh Tô-bi-a… em là Đa-vít đây !” Nhưng chẳng thấy ai trả lời. Tôi sợ hãi chạy đến gần, cũng không thấy ai, ngoại trừ một bóng người lạ ngồi giữa đàn chiên.

Người lạ lên tiếng chào tôi: “Chào em, đêm nay đẹp quá nhỉ ?”

Tôi trả lời: “Vâng, đêm đẹp nhưng lạnh quá… À, mà anh ơi, những người ở đây đi đâu cả rồi hả anh ?”

“Họ đi Bê-lem, họ đi dự dạ hội, một Vị Vua mới sinh ra”.

Tôi tức giận: “Vậy mà họ không dẫn em theo, họ ích kỷ quá !”

Người lạ đáp với giọng dịu dàng: “Họ gấp lắm, mọi việc đều bất ngờ quá”. Tôi trách: “Đáng lý là họ không nên đi, người chăn mà bỏ rơi chiên là tội rất lớn. Họ vẫn biết rằng đám ăn trộm lúc nào cũng chực để vồ lấy đàn chiên”.

Người lạ bảo tôi: “Họ đi như thế là đúng đấy, anh thay họ để giữ chiên đây”. Tôi phản đối: “Nhưng anh chỉ có một mình thôi, cần phải có đông người mới chống lại được bọn trộm”.

Người lạ mỉm cười: “Anh nghĩ rằng anh có thể chống lại bọn trộm cướp, dù chúng có đông bao nhiêu đi nữa”.

Tôi nghe mà thấy lành lạnh trong xương sống. Người này nói với một giọng bình thường như xác nhận một sự việc bình thường chứ không có tý gì khoe khoang, và tôi tin rằng anh ta nói thật. Tôi kinh hãi hỏi: “Vậy thưa anh, anh tên là gì ?”“À, anh là một chiến sĩ, anh tên là Mi-ca-e. Còn em, em tên là gì ?” – “Tên em là Đa-vít” – “Em định đi đâu đấy, Đa-vít ?”

Tôi nói cho anh Mi-ca-e biết ý định của tôi, tôi mong anh Ê-li-a sẽ cùng đi với mình, nhưng bây giờ thì… Anh Mi-ca-e nói: “Vậy là em phải đi một mình rồi”. Tôi thú thật: “Nhưng em sợ” – “Ồ, em là Đa-vít mà sợ à ? Xưa kia vua Đa-vít có sợ ai đâu ?” – “Nhưng vua Đa-vít được chính Thiên Chúa dẫn đường và bảo vệ” – “Thì Người cũng sẽ dẫn đường và bảo vệ em” – “Em không cảm thấy như thế.”

Người chiến sĩ Mi-ca-e lại mỉm cười: “Kìa, em chưa lên đường thì làm sao có những trở ngại để cần đến Người bảo vệ. Thôi, em hãy đi nhanh lên. Và nếu còn sợ thì em cứ thổi lên một vài khúc sáo”.

Lời nói của người khách vừa lạ vừa quen ấy có một sức thuyết phục tuyệt vời. Tôi ù té chạy. Nhưng khi sắp vượt qua một con đường ở triền đồi, tôi bỗng thấy có bóng người đang đi đến. Chắc là những tên trộm chiên. Tôi nấp mình chờ đợi, và nhận ra có ba người sang trọng đang rảo bước trên đường. Họ không nhìn đường mà đi, nhưng ngẩng mặt nhìn lên trời và có vẻ chẳng để ý gì đến chung quanh.

Thái độ kỳ lạ của họ lôi cuốn tôi đến độ tôi quên mất mục đích của mình, đổi hướng đi theo họ lúc nào chẳng hay.

Đến gần một chuồng bò ở Bê-lem, họ dừng lại. Bấy giờ, một người trong bọn họ mới kên tiếng: “Vị Vua ở đây rồi”. Tôi nghĩ những người này chắc điên rồi, vì làm gì có một vị vua ở trong chuồng bò như thế này.

Thế nhưng cả ba đã bước xuống lạc đà rồi cung kính đi vào trong chuồng bò. Tôi đến gần xem. Họ bước đến quỳ bên một cái máng cỏ sáng ngời. Họ đặt quanh đó những lễ vật mà họ mang theo. Trong máng cỏ, có một Hài Nhi đang mỉm cười… Không, họ không phải là những người điên, Hài Nhi đúng là Vua rồi…

À, mà một ông Vua như thế thì tôi cũng có quyền đến triều bái chứ, bằng chứng là anh Ê-li-a và anh Tô-bi-a cũng đang quỳ ngay đấy. Nhưng tôi chẳng có gì để dâng cho Ngài. Nhưng có chứ, tôi có cây sáo đây. Tôi lách mình giữa ba ông sang trọng, đến đặt cây sáo giữa cây gậy và ổ bánh của anh Ê-li-a, bên cạnh vàng, nhũ hương và mộc dược của ba ông khách nọ. Thế là Hài Nhi cũng mỉm cười với tôi. Tôi quỳ đó ngơ ngẩn như người đi trên mây.

Tôi cũng chẳng nhớ mình quỳ đó bao lâu, vì khi sực tỉnh thì thấy mình đã về đến nhà. Mặt trời sắp mọc. Tôi bỗng nhớ lại tình trạng bệnh của mẹ tôi đầu hôm. Tôi bỗng thấy tiếc nuối cây sáo của tôi. Tôi ân hận đến ứa cả nước mắt… Nhà tôi sao im lặng quá. Tôi đâm lo: hay là mẹ tôi đã làm sao rồi… Tôi chạy vội vào nhà… và dừng lại sững sờ: mẹ tôi đang ngồi ăn cháo với cha tôi. Và hai người nhìn nhau như đôi vợ chồng son trẻ. Cha tôi quay sang ẵm tôi đặt vào một chiếc ghế bên bàn ăn. Và qua lời kể lại, tôi lõm bõm hiểu được những gì xảy ra.

Đêm hôm qua, cha mẹ tôi cùng một lúc nghe ngân lên một tiếng chuông vàng, và cả hai cùng thức giấc. Cha tôi tỉnh táo hẳn. Ông cảm thấy chán ghét và ghê tởm cuộc sống rượu chè của mình. Ông định đến gần mẹ tôi để xin lỗi thì thấy mẹ tôi đã tươi tỉnh khỏe mạnh. Căn bệnh thâm niên của bà bỗng dưng đã biến mất. Họ nhìn vào mắt nhau như mới gặp nhau lần đầu. Hai người lẩm bẩm: “Đúng là ai đó đã đánh lên một tiếng chuông vàng, nhưng ai đánh ở đâu thế nhỉ ?”

Tôi im lặng, vì nhớ lại đêm qua, khi dâng lễ vật của mình cho Hài Nhi, tôi đã lúng túng thế nào để rơi chiếc sáo trên lễ vật sang trọng của những người khách lạ. Chiếc sáo va vào một chiếc chén bằng vàng, làm vang lên một tiếng thánh thoát như chuông ngân…

CON LỪA:

Hai bạn kể hay quá làm tôi cũng muốn góp phần. Suy nghĩ mãi mà tôi cũng chẳng biết tự cho mình là ai trong số những người có mặt bên máng cỏ đêm hôm ấy. Thánh Giu-se và Đức Mẹ thì ai dám. Còn làm đạo sĩ thì quá cao với tôi… Hay là… ờ, tại sao lại không nhỉ ? Trong hang đá còn có bò và lừa. Các bạn nhìn xem tôi có giống con lừa không nào ? ( Mọi người tủm tỉm cười: “Cũng giông giống đấy !” ). Thế, tôi sẽ là con lừa trong đêm No-en nhé !

Tôi là con lừa đã đi từ Na-da-rét tới. Tôi đã chở cô chủ đáng kính trên lưng tôi. Đêm hôm ấy, khi không còn chỗ trong quán trọ, hai vợ chồng trẻ đã dẫn tôi về một cái chuồng bò.

Điều bực mình đầu tiên là trong chuồng có một con bò. Tôi, một con lừa, mà lại đi ở chung với một con bò à ? Các bạn biết không: Nhìn cái tướng của đám bò là tôi đã thấy ghét cay ghét đắng: trên đầu đội hai cái sừng nhọn hoắc, miệng mồm thì lúc nào nước mũi nước bọt cũng phều phào. Đấy là chưa kể tôi còn có một mối hận riêng. Ông chủ cũ của tôi, trước khi bán tôi cho hai vợ chồng đáng quí này đã từng rủa vào mặt tôi: “Con lừa này ngu như bò, bán quách đi cho xong”.

Đấy, thế đấy ! Vậy mà đêm nay tôi lại phải hạ mình ở chung với một con bò ! Nhưng khi thấy ông chủ của tôi kéo rơm ra làm chỗ nghỉ thì tôi chột dạ: Họ là những con người mà vẫn ở được với bò, vậy sao tôi lại không ? Vì thế, tôi cũng tìm một góc để ngủ, và tránh xa con bò đang đưa cặp mắt ếch… xin lỗi… cặp mắt bò nhìn chúng tôi mà không một lời chào hỏi. Nếu không dằn lòng thì tôi đã mắng cho một câu: “Đồ ngu như bò !”

Nghĩ như thế, nhưng mệt quá tôi ngủ thiếp đi lúc nào không biết, khuya hôm đó tôi chợt thức giấc một cách bất thường. Nhìn về phía máng cỏ, tôi thấy cô chủ của tôi mệt mỏi nhưng đang âu yếm nhìn chăm chú vào bên trong. Bên cạnh đấy, con bò đang lúc lắc cặp sừng. Tôi vội chạy đến để bảo vệ chủ. Nhưng khi đến gần, tôi thấy một Hài Nhi nằm trong máng cỏ. Tôi không biết ai đã đem Hài Nhi xinh đẹp này đến, vì lúc đầu chỉ có hai người thôi mà. Nhưng mà thôi, suy nghĩ làm gì cho mệt đầu. Tôi vẫn âm thầm mang cái mặc cảm “ngu như bò”.

Thì ra con bò không có ý hại chủ tôi, nó lắc lư cặp sừng để xua đuổi mấy con ruồi đang khuấy phá giấc ngủ của Hài Nhi. Tôi ngạc nhiên quá, chỉ biết đến nằm phủ phục bên máng cỏ mà không biết phải làm gì. Con bò lợi dụng tình thế đến bên cạnh tôi. Có bực mình không cơ chứ ? Nếu không sợ Hài Nhi thức giấc thì chắc tôi đã tỏ thái độ.

Thế mà không biết thân, nó còn ra mặt dạy đời: “Hài Nhi sắp thức giấc, chúng ta không nên đến gần quá” – Tôi bực mình: “Chúng ta có phải là quái vật đâu ?”“Nhưng mà mặt chúng ta không giống mặt cha mẹ Hài Nhi, Hài Nhi sẽ sợ đấy !” – “Máng cỏ kìa, chuồng bò kìa, có giống mặt cha mẹ Hài Nhi đâu, nhưng Hài Nhi nào có sợ ?”

Nó im lặng một lát rồi lẩm bẩm: “Thật là đau đớn khi không thể đến gần một người mình thương, chỉ vì mình có cái tướng tá quá thô lỗ. Phải chú ý để khỏi gây thương tích… Mặt dù, bạn biết đó, bản chất tôi không bao giờ muốn là hại ai, nhưng biết làm sao được, tôi đi đến đâu thì cũng phải mang theo cặp sừng”.

Tôi bỗng thấy hơi tội nghiệp nó, nhưng không làm sao ngăn được lời mỉa mai: “Đúng đấy ! bạn không nên đến gần, cặp sừng của bạn sẽ đâm vào Hài Nhi đấy. Còn tôi, tôi sẽ ngoe nguẩy đôi tai, và Hài Nhi sẽ thích thú… Vả lại, bạn có thể nhiễu nước bọt vào mặt Hài Nhi. À, tôi không hiểu tại sao khi bạn sung sướng, thì mồm của bạn lại trều trào nước bọt một cách… thiếu vệ sinh như vậy nhỉ ?”

Nó im lặng một lát rồi lẩm bẩm: “Ôi Hài Nhi đáng kính, xin đừng có xua đuổi tôi. Cậu hiểu cho rằng cặp sừng này chẳng qua là một hình thức trang trí. Tôi phải thưa với cậu rằng tôi chưa bao giờ sử dụng chúng cả. Cậu hãy cho tôi một tý ánh sáng để tôi biết mình phải làm gì. Bởi vì tôi sung sướng quá, bởi vì tôi mang ơn cậu nhiều quá. Làm sao tôi có thể tạ ơn cậu vì đã cho tôi được ở gần cậu như thế này, đã được sống thân mật giữa các thiên thần và các vì sao như thế này !”

Nghe nó nói, tôi hơi xúc động, nhưng để tỏ ra cứng đầu đúng với bản chất của mình, tôi rầy rà nó vài câu: “Thôi im đi, bạn làm gì mà rên rỉ vậy. Bạn không thấy là bạn đang phá giấc ngủ của Hài Nhi với những lời lải nhải của bạn sao ?”

Đáp lại, nó nói lên một câu thật dễ thương: “Bạn có lý, cần phải biết im lặng khi cần thiết, dù mình có thấy một hạnh phúc to lớn đến độ không biết cất dấu nơi đâu”.

Ngày qua ngày, càng ở gần Hài Nhi, tôi lại thấy bò càng dễ mến. Nhất là những lúc bò đến cuốn hết ruồi muỗi để chịu chúng đốt thay cho Hài Nhi, nhờ vậy mà Hài Nhi được yên lành trong giấc ngủ. Tôi vẫn chưa nói được một lời nhẹ nhàng nào với bò, nhưng đã cảm thấy gần gũi hơn trước nhiều.

Bỗng một đêm kia, ông chủ tôi thức giấc, gọi vợ mình và nói: “Chúng ta hãy tránh sang Ai-cập vì Hê-rô-đê đang muốn giết Hài Nhi đấy !”

Trong khi ông trải tấm khăn lên lưng tôi, thì bò đưa mắt nhìn ngơ ngác. Cô chủ dịu dàng đến nói với bò: “Thôi, bò ở lại nhé, cám ơn bò vì những ngày qua đã sưởi ấm cho Hài Nhi !” Bò không nói gì cả, chỉ lảo đảo quay đi nằm xuống một góc làm như đôi chân quá yếu không còn sức để chịu nổi thân mình…

Khi tôi đưa mẹ con Hài Nhi ra đi, ông chủ tôi cũng muốn nói gì đó với bò, nhưng bò đã ngủ. Không, bò không ngủ, tôi biết rằng bò còn thức. Trước khi quay đi, tôi đã thấy một giọt nước mắt tràn ra khỏi đôi mi khép kín của bò. Bò giả vờ ngủ để khỏi bịn rịn lúc chia tay.

Và suốt trên hành trình đi qua Ai-Cập, mặc dù tôi được vinh dự chuyên chở Hài Nhi, tôi vẫn không được hoàn toàn hạnh phúc vì tôi chưa nói cho bò hiểu rằng: bò rất dễ mến. Vả lại, dù tôi có muốn nói điều đó, tôi cũng không biết nói thế nào cho gãy gọn, vì tôi vốn dĩ “ngu như…lừa !”

Vì thế hôm nay, tôi muốn nhờ các bạn điều này: Hôm nào các bạn có dịp đi thăm máng cỏ thì hãy nói với bò hộ tôi rằng: “Ơn lớn nhất mà chúng tôi đã nhận được từ Hài Nhi là chúng tôi bỗng trở nên thương yêu nhau.”

Các bạn tin tôi đi. Các bạn hãy hết lòng đến với Hài Nhi, rồi các bạn cũng sẽ nói như tôi: “Bò mới trông thì thế đấy… nhưng bên trong thì thật dễ thương !”

NGƯỜI ĐẠO SĨ THỨ NHẤT:

Tôi tên là Gát-xpa ( Gaspar ), một trong ba người đạo sĩ đã đến dâng của lễ bên máng cỏ ở Bê-lem. Hai người bạn của tôi là Men-ki-o ( Melchior ) và Ban-ta-da ( Balthazar ).

Từ lâu lắm rồi, tôi mải ngắm nhìn nền trời đầy sao, và hôm ấy, ngôi sao tôi chờ đợi xuất hiện. Các bạn từng có hình ảnh về sao lạ ở Bê-lem, nên các bạn hình dung đó là một ngôi sao khác thường, với một cái đuôi thật dài chĩa thẳng về hang đá. Một ngôi sao mà không ai có thể nhận lầm được.

Xin thưa với các bạn, nếu các bạn nghĩ như thế thì các bạn lầm rồi đấy. Ngôi sao ấy không khác với các ngôi sao bình thường đâu. Tôi đã chờ đợi nó từ bao nhiêu năm trường mà khi xuất hiện, tôi vẫn còn do dự. Tôi đã chỉ cho bao nhiêu người xung quanh, cho bà con họ hàng, cho thân bằng quyến thuộc. Họ chỉ nhìn thoáng rồi thôi. Họ bảo rằng giữa hằng hà sa số vì sao thì ngôi sao ấy cũng chẳng có gì đặc biệt. Không ai chịu lên đường với tôi, rốt cuộc tôi phải đi một mình. Không ai muốn đặt niềm tin vào một vì sao, mà xét cho cùng, có thể chỉ là một ngôi sao như trăm ngàn ngôi sao khác. Nhưng riêng tôi thì tôi phải ra đi, bởi vì tôi không thể đặt ngôi sao ấy đồng hàng với những ngôi sao bình thường khác.

Khi gặp được Men-ki-o và Ban-ta-da, niềm phấn khởi của chúng tôi có gia tăng. Nhưng dù sao cũng chỉ là ba người thức giấc, bước đi trong đêm tối, cố dõi theo một ngôi sao, trong khi mọi người khác đang yên hàn trong giấc ngủ. Càng đi chúng tôi càng mệt mỏi. Khi thể chất mệt nhoài, thì tinh thần cũng sa sút, và những gì chúng tôi tin tưởng lúc khởi hành cũng dần dần nhạt phai. Nhất là khi trên nền trời hiện ra nhiều vì sao mới, sáng sủa hơn, đẹp đẽ hơn, gần gũi hơn.

Thế nhưng chúng tôi vẫn cứ bám vào ngôi sao ban đầu, bám vào một cách cố chấp, vì chúng tôi đã tự hứa sẽ trung thành đến cùng với ngôi sao đã thúc giục chúng tôi lên đường.

Rồi chuyện bi đát đã xảy ra: Ngôi sao của chúng tôi đã biến mất. Bây giờ mới thực sự là lúc cô đơn. Ba chúng tôi nhìn nhau không dám nói một lời. Chúng tôi không tìm ra lời nào để khích lệ nhau. Đức tin thúc giục chúng tôi đi tới, lý trí bảo rằng chúng tôi phải quay về. Và chúng tôi im lặng đi bên nhau, cô đơn giữa những người cùng chí hướng. Chúng tôi bước đi trong đêm tối, đêm tối trên trời, và đêm tối trong lòng.

Với tâm trạng đó, chúng tôi tiến về Giê-ru-sa-lem.

Đến Giê-ru-sa-lem, chúng tôi cảm thấy mình như kẻ rồ dại. Chúng tôi chờ đợi một Giê-ru-sa-lem tưng bừng mở hội đón chào đấng Mê-si-a, nhưng trái lại chúng tôi bắt gặp một Giê-ru-sa-lem hờ hững. Giê-ru-sa-lem là nơi phát xuất Kinh Thánh, là nơi của Lời Hứa, vậy mà Giê-ru-sa-lem chẳng hay biết gì cả.

Điều này chứng tỏ rằng chúng tôi đã sai lầm, chúng tôi đã bị một ngôi sao vớ vẩn nào đó đánh lừa. Nhưng dù sao, chúng tôi vẫn tiếp tục. Chúng tôi sẽ đi ngược lại với mọi chứng cớ, vì chúng tôi là những người đã bị một vì sao trên trời cuốn hút; chúng tôi không thể lùi lại. Chúng tôi sẽ là những người khôn ngoan nhất hoặc sẽ là những kẻ rồ dại nhất.

Chúng tôi phải bước tới. Đến gặp Hê-rô-đê. À ! thì ra cũng còn một người thức tỉnh. Ông niềm nở đón tiếp chúng tôi, ông cho gọi các luật sĩ đến chỉ đường cho chúng tôi về Bê-lem; ông mời chúng tôi trở lại báo tin cho ông biết để đi thờ lạy…

Mãi sau này chúng tôi mới biết được rằng, chính vì quyền lợi mà ông ta thức tỉnh chứ chẳng phải vì niềm tin. Thì ra người ta dễ dàng thức tỉnh vì quyền lợi hơn là vì niềm tin ! Bởi thế mà Hài Nhi đã bị kết án tử hình ngay trước khi chúng tôi đến thờ lạy.

Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình về Bê-lem như những người say, dân chúng Giê-ru-sa-lem đang tựa cửa đứng nhìn. Chúng tôi đã bao nhiêu đêm ngày lặn lội đường xa để đến triều bái vị vua mới sinh. Còn họ, họ không buồn ngưng cuộc sống bình thường lấy một ngày để đến Bê-lem kiểm chứng. Phải chăng họ đã chờ đợi quá lâu rồi nên bây giờ không còn tha thiết gì nữa ? Phải chăng niềm tin của chúng tôi chỉ là ảo tưởng ?

Lúc đến Giê-ru-sa-lem, chúng tôi đã đi ngược lại quan niệm của những người bàng quan. Giờ này về Bê-lem, chúng tôi đi ngược lại với quan niệm của những người được tuyển chọn. Dưới mắt mọi người, chúng tôi là những kẻ bất bình thường, nếu không phải là những tên khờ khạo.

Và này, ngôi sao lại xuất hiện, chúng tôi nhìn nhau mỉm cười mà nước mắt tuôn trào. Không ! Ngôi sao xuất hiện không phải để chỉ đường, vì chúng tôi đã biết đường về Bê-lem. Ngôi sao xuất hiện không phải để củng cố niềm tin, vì chúng tôi vẫn tin tưởng, tin tưởng một cách ngoan cố, tin tưởng ngay trong lúc ngỡ rằng mình hoài nghi nhất. Ngôi sao xuất hiện như một bằng chứng tình yêu đáp lại tình yêu.

Chúng tôi đã đến Bê-lem dâng lên Hài Nhi những của lễ vật chất kèm với tấm lòng thành của mình. Chúng tôi đã tìm được kho tàng quí giá nhất. Đối diện với Hài Nhi, chúng tôi hiểu rằng, khi ra đi, chúng tôi đã không có một của lễ nào xứng đáng để dâng lên Ngài. Chúng tôi quả đã mang theo vàng, nhũ hương và mộc dược. Nhưng những của lễ đó hoàn toàn không có giá trị nếu không kèm theo những đau khổ, những cực nhọc, những lo âu, những thử thách, những đêm tối trong lòng mình.

Nhờ vậy mà chúng tôi đuợc thấy ánh sáng trong đêm Bê-lem này. Bây giờ chúng tôi có thể ra về, chúng tôi trở về rón rén, im lặng vì chúng tôi đã tìm được kho tàng mà những vị vua chúa không thèm, một kho tàng mà họ ghét bỏ và muốn tiêu diệt.

Vâng, Hê-rô-đê đã ra lệnh cho binh sĩ chỉnh tề gươm giáo. Chúng tôi không trở lại với Hê-rô-đê, chúng tôi đã thất hứa. Các bạn không trách chúng tôi chứ ? Chúng tôi đành thất hứa với một ông vua, chứ làm sao chúng tôi có thể phản bội Hài Nhi ?

Tôi tin rằng các bạn thông cảm với chúng tôi, bởi vì hành trình của chúng tôi cũng chính là hành trình của các bạn ngày hôm nay. Hành trình của những người hướng về một ngôi sao có khi đã tắt, và âm thầm tiến về Bê-lem.

NGƯỜI ĐẠO SĨ THỨ TƯ:

Có lẽ tôi cũng cần phải lên tiếng, bởi vì nếu hôm nay tôi im lặng, tôi sẽ là một tên vô ơn bạc nghĩa nhất trên đời. Tôi là một người đã đến bên Hài Nhi với hai bàn tay trắng và đã nhận tất cả nơi Giê-su. Tôi là một trong muôn ngàn người đến với Giê-su, nhận lấy thật nhiều rồi ra đi lặng lẽ. Tôi là người đạo sĩ thứ tư, người đạo sĩ đến sau cùng và Phúc Âm không hề đề cập đến.

Cố nhiên tôi cũng đã chuẩn bị một lễ vật dâng lên Hài Nhi, nhưng vì lơ đễnh tôi đã để rơi mất ! Tôi đã chậm trễ dọc đường nên không tới kịp như ba vị trước. Ngày tôi phát hiện vì sao lạ, tôi đã mở kho tàng mình và lấy ra ba viên ngọc quí nhất để làm của lễ tiến dâng.

Trên đường đi, tôi đã gặp một cụ già hấp hối, đói rét và bệnh tật nhưng không có ai chăm sóc. Tôi đã mủi lòng nên lấy ra một viên ngọc để nhờ người chăm sóc cụ già ấy. Đó là lý do đầu tiên làm tôi chậm bước. Ngày hôm sau, tôi lên đường một mình. Khi qua một khu rừng thưa, tôi nghe có tiếng thét thất thanh, tôi đã dừng lạc đà rồi tò mò chạy đến.

Tôi thấy có mấy tên côn đồ muốn hành hung một phụ nữ. Tôi không đủ sức đánh chúng, nên đành phải rút viên ngọc thứ hai mà mua lấy tự do cho người bất hạnh kia.

Thế là tôi chỉ còn một viên ngọc cuối cùng. Tôi quyết sẽ không phung phí vì bất cứ một lý do gì nữa. Nhưng rồi tôi lại không giữ đúng được lời tôi đã nguyện.

Khi đến gần Bê-lem, tôi bỗng thấy lửa rực trời. Những người lính của Hê-rô-đê đang giết những trẻ em. Gần một ngôi nhà bốc lửa, một tên lính nắm xốc ngược một em bé trai, định lấy gươm mà đâm thâu, và dưới chân là người mẹ quỳ khóc gào không ra tiếng… Tôi bỗng quên lời hứa với chính mình và đem viên ngọc thứ ba trao cho tên lính để nó trả đứa bé lại cho người mẹ khốn cùng.

Thế là hết, tôi chẳng còn gì nữa. Tôi đã đi bao nhiêu đêm ngày đến đây mong triều bái Vị Vua mới sinh, thế mà tôi lại đến với hai bàn tay trắng. Dù sao thì tôi cũng phải đến để xin lỗi Ngài.

Tôi cúi mặt bước vào chuồng bò ở Bê-lem. Tôi nghẹn ngào khi thấy vàng ròng, nhũ hương và mộc dược của những người đi trước tôi. Tôi không còn lòng dạ nào nói lên lời xin lỗi. Tôi quỳ xuống cạnh máng cỏ, úp mặt vào lòng bàn tay, mặc cho giòng nuớc mắt tuôn trào.

Nhưng kìa, sao nước mắt tôi hôm nay ấm thế ?… Không, không phải là nước mắt, nhưng là đôi tay ấm áp của Chúa Hài Nhi đang nắm lấy tay tôi. Chúa Hài Nhi không lộ vẻ trách móc, nhưng nhìn tôi âu yếm, trên môi nở một nụ cười. Và tôi cảm thấy tràn đầy bình an.

Tôi chợt hiểu rằng, tôi là người duy nhất lãnh nhận tất cả nơi Hài Nhi, bởi vì tôi chẳng có gì để tiến dâng cả.

Tôi hiểu rằng nếu tôi đến bên Hài Nhi với ngọc ngà châu báu, thì có thể tôi đã trở về tay không, bởi vì lòng tôi sẽ đầy ắp tự mãn, chẳng còn chỗ để chứa chất bình an của Ngài.

Nhưng tôi đã đến bên Hài Nhi với bàn tay trắng, và cõi lòng trống rỗng, vì thế tôi đã nhận được bình an tràn đầy.

Vì thế mà hôm nay tôi bắt buộc phải nói lên một lời cảm tạ.

Tôi muốn nói với các bạn rằng nếu bạn còn một của cải vật chất hay tinh thần nào đó mà bạn dành cho Hài Nhi, thì hãy phân phát cho người khác. Các bạn hãy đến bên Hài Nhi như tôi, đến với sự khó nghèo trong lòng và với hai bàn tay trắng, thì rồi các bạn sẽ nhận được tất cả…

HÊ-RÔ-ĐÊ:

Từ nãy đến giờ các bạn đã nghe những lời êm ái, tôi sợ rằng các bạn ngủ quên đi mất. Tôi muốn đánh thức các bạn. Ít ra là những ai đồng quan điểm với tôi. Các bạn đã nghe nhiều người kể lại về những điều họ đón nhận được nơi Giê-su. Chưa nghe ai nói đến những điều phiền toái mà Giê-su đã mang đến. Một trong những người bị rắc rối từ khi Giê-su sinh ra, đó là tôi: Hê-rô-đê.

Người đạo sĩ lúc nãy nói rằng người ta dễ thức tỉnh vì quyền lợi hơn là vì niềm tin, ông tưởng rằng đó là một khám phá độc đáo. Thực ra, điều đó chẳng có gì lạ, rất bình thường nữa là khác. Tôi đã thức tỉnh vì quyền lợi, đúng như vậy, và tôi cũng chẳng cần phải giấu giếm chuyện đó.

Tôi là vua, nhưng không phải là một ông vua cha truyền con nối, mà nhờ sự phấn đấu của chính bản thân tôi. Các bạn còn nhớ chứ ? Chính tôi là người đã cho trùng tu đền thờ Giê-ru-sa-lem. Đấy ! Tôi là một nhân vật có uy tín trong giáo quyền, cũng như trong chính quyền của đất nước Pa-lét-xtin.

Tóm lại, tôi thuộc loại người thực tế, biết mình muốn gì, biết mình cần đi đến đâu, và đủ thông minh để gạt bỏ mọi trở ngại trên đường mình đi.

Bây giờ tôi nói đến chuyện Giê-su sinh ra.

Có mấy đạo sĩ đến nói cho tôi biết rằng họ đã nhận ra dấu hiệu của vua dân Do-thái mới sinh ra. Vị vua này là Đấng Mê-si-a mà các tiên tri đã từng loan báo. Thú thật, tôi không tin nổi chuyện này. Vì lời loan báo của ngôn sứ I-xai-a đã có cách đây 700 năm rồi. Biết bao nhiêu thế hệ chờ đợi, mà có thấy gì đâu. Vậy thì không có lý gì ngày hôm nay Đấng Mê-si-a lại xuất hiện !

Vả lại, thời buổi này đang là lúc ổn định. Chúng tôi bị người Rô-ma đô hộ thật đấy, nhưng thời gian khó khăn ban đầu đã qua rồi, bây giờ thì người ta đã quen. Ngoài món thuế phải nộp thường xuyên cho Rô-ma, nói chung, đời sống dân chúng cũng thoải mái, mọi sinh hoạt đều bình thường.

Ngoại trừ một vài nhóm Dê-lốt ( Zélote ) ngông cuồng quá khích, còn lại số đông dân chúng chỉ muốn yên thân làm ăn sinh sống. Chẳng ai hoài công trông chờ một Đấng Giải Phóng làm chi nữa. Hiện trạng của xã hội thời tôi là thế đó. Với cương vị là vua, là người lãnh đạo, tôi muốn duy trì tình trạng ổn định đó…

Vậy mà mấy ông đạo sĩ ở đâu đến đã làm rối tung hết mọi sự. Dân chúng bắt đầu phao tin đồn nhảm. Cuộc sống yên hàn ở Giê-ru-sa-lem bắt đầu rục rịch xáo trộn. Nhiều người đã ngồi mơ tưởng đến những chuyện viển vông, và tệ hơn nữa, có người đã dám nhỏ to về ngôi vua của tôi.

Trước tình hình đó, tôi phải làm một cái gì để giập tắt những mầm mống phản loạn. Các bạn còn nhớ chứ ? Tôi đã ra lệnh giết các đứa bé từ hai tuổi trở xuống trong phạm vi Bê-lem. Với cái chết của chúng, dư luận bất lợi cũng tiêu tan !

Có thể sẽ có người cho tôi là tàn ác, khát máu, khi ra lệnh giết các trẻ em vô tội. Câu trả lời của tôi là thế này: “thà rằng một số đứa con nít hy sinh, còn hơn là để sống sót những mầm mông sẽ gây rối loạn cho cả xã hội Do-thái sau này”. Đạo đức và những tình cảm nhỏ nhặt đôi khi phải nhường bước cho sự tính toán khôn ngoan, nhất là trong cái nhìn của một người có trách nhiệm lãnh đạo như tôi.

Các bạn là những người bị Giê-su lôi cuốn, nên có thể sẽ cho rằng tôi sai lầm khi không đón nhận Giê-su, rằng tôi mù quáng vì đã không chịu đến gặp Giê-su để được đổi mới cuộc đời…

Coi chừng các bạn đang nói chuyện lý thuyết đấy: Thử đặt vào địa vị của tôi, các bạn sẽ thấy. Đến với Giê-su, có nghĩa là rời bỏ cung điện của mình. Đi theo mấy tên đạo sĩ kia, có nghĩa là phải chấp nhận Giê-su là vua dân Do-thái, thế, ngai vàng của tôi hiện giờ thì sao ?

Rõ ràng là việc Giê-su sinh ra đã gây cho tôi nhiều rắc rối. Cũng như bao nhiêu lần gặp khó khăn khác, tôi phải suy nghĩ và chọn lựa: Một là Giê-su, hai là chính mình. Tôi đã quyết định dứt khoát: tôi đã chọn chính mình.

Các bạn thấy là cuối cùng tôi đã gạt câu chuyện giáng Sinh sang một bên. Và nếu cần, tiếp tục thực hiện một vài biện pháp mạnh để giập tan những rắc rối có thể có.

Các bạn hãy tin tôi đi. Đừng bị lệ thuộc vào những tình cảm vụn vặt, hãy biết suy tính khôn ngoan trong cuộc sống, và các bạn sẽ thành công.

Tôi đã sống như thế và tôi đã thành công !

NGƯỜI ĐÚC KẾT:

Hê-rô-đê đã sống như vậy và ông đã thành công. Quả thật ông đã ngồi vững trên ngai vàng cho đến chết.

Nếu chúng ta hiểu sự thành công theo quan điểm của ông, thì Đức Giê-su đã thất bại, thất bại một cách chua cay: Ngài đã được gì ? Tiền tài ? Không ! Danh vọng ? Không ! Chức tước ? Cũng không ! Ngai vàng của Ngài là Thập Giá !

Vấn đề của He-rô-đê cũng là vấn đề của chúng ta: chọn lựa chính mình làm vua hay chọn Đức Giê-su làm Vua.

Ngài vẫn còn đó và gọi mời, nhưng lời kêu mời của Ngài cũng nhè nhẹ như tiếng hát của thiên thần đêm No-en, mơ hồ như ánh sao của các đạo sĩ lúc ẩn lúc hiện: một lời kêu mời vừa đủ rõ để chúng ta đón nhận nhưng không trói buộc chúng ta nên chúng ta có thể gạt qua một bên, như Hê-rô-đê.

Như chúng ta nói từ đầu, chúng ta gặp gỡ nhau hôm nay là để cùng khơi lại niềm vui đích thực, nhưng xét trên một khía cạnh nào đó chúng ta không thành công vì gần một giờ vừa qua, bầu không khí quá trầm buồn nếu không nói là căng thẳng. Tuy nhiên những câu chuyện được nghe đều mang âm hưởng của cuộc sống hôm nay.

Ngày hôm nay, vẫn còn những cô con gái của chủ quán, ý thức rắng mình đang thiếu thốn một cái gì chưa thể đặt tên, rồi thức giấc trong đêm hướng lòng về Hài Nhi để nhận lấy ánh sáng và nụ cười.

Ngày hôm nay, vẫn còn những cậu bé mục đồng đem đến dâng Hài Nhi một cái gì quý giá nhất của mình, rồi ngơ ngác luyến tiếc quay về, để rồi khám phá ra rằng: mình nhận nhiều hơn gấp bội.

Ngày hôm nay, vẫn còn những “con lừa” cố chấp đến bên cạnh Hài Nhi để phục vụ, rồi dần dà thông cảm yêu thương anh em mình, những người “có sừng” nhưng tốt bụng.

Ngày hôm nay, vẫn còn những đạo sĩ thứ nhất, những người tin tưởng vào Đức Ki-tô, lên đường, hướng về với Ngài qua những tháng ngày đen tối, qua những tâm trạng trống rỗng và nguội lạnh, nhưng tin chắc rằng Ngài sẽ trung thành chờ đón ở cuối đường.

Và ngày hôm nay cũng vẫn còn không ít Hê-rô-đê, những người đã gạt câu chuyện Giáng Sinh của Giê-su qua một bên, và nếu cần, thực hiện một vài biện-pháp-mạnh để đập tan những tiến rên la nho nhỏ trong lòng mình, để tránh những phiền toái của cuộc đời.

Trong mùa Giáng-Sinh này, chúng ta sẽ là ai ?

Là con gái ông chủ quán trọ ? Là chú bé mục đồng ? Là con lừa bên máng cỏ ? Là người đạo sĩ thứ nhất hay chúng ta sẽ là Hê-rô-đê ?

Và tùy thuộc ở câu trả lời của mỗi một người mà niềm vui Giáng Sinh có đến với chúng ta hay không.

Đúng là niềm vui Giáng Sinh đã được ban cho, nhưng chúng ta cần phải đến với cõi lòng trống rỗng như người đạo sĩ thứ tư thì mới còn chỗ để cho niềm vui Giáng Sinh lấp đầy.

Có như thế thì lời loan báo cho mục đồng mới trở nên lời loan báo cho chúng ta: “Này, ta đem đến cho các ngươi một niềm vui to tát: hôm nay Đức Ki-tô đã sinh ra cho các ngươi.”

Vâng, cho chúng ta ! Cho mỗi một người trong chúng ta !

TRẦN DUY NHIÊN

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s